Nguyên lý và thành phần làm việc của máy đo mức âm thanh

Sep 26, 2024

Để lại lời nhắn

Nguyên lý và thành phần làm việc của máy đo mức âm thanh

 

Chuyển động không đều vốn có và lực đẩy lẫn nhau của các phân tử không khí tạo ra một lực tĩnh, gọi là áp suất khí quyển. Âm thanh là sự rung động của các phân tử không khí và các phân tử không khí rung động tạo ra áp suất bổ sung lên mặt cắt ngang mà chúng đi qua, gọi là áp suất âm thanh. Áp suất âm thanh nhỏ hơn nhiều so với áp suất khí quyển. Nói chung, mức áp suất âm thanh được sử dụng để mô tả kích thước của âm thanh. Nghĩa là, áp suất âm thanh rất nhỏ p{1}} x 10-5 Pa được sử dụng làm áp suất âm thanh tham chiếu. Giá trị thu được bằng cách nhân tỷ lệ giữa áp suất âm thanh đo được p với áp suất âm thanh tham chiếu p0 với 20 được gọi là mức áp suất âm thanh và đơn vị là decibel (db). Decibel (dB) được đặt theo tên của nhà phát minh điện thoại người Mỹ Bell, vì đơn vị decibel quá lớn nên nó được dùng để biểu thị 1/10 decibel. Việc tính toán decibel không phải là tỷ lệ tuyến tính mà là tỷ lệ logarit. Khi sử dụng decibel để mô tả âm thanh, cần phải đưa ra tần số cùng lúc.


Nguyên lý làm việc và thành phần của máy đo mức âm thanh
Máy đo mức âm thanh là công cụ cơ bản nhất trong đo tiếng ồn, thường bao gồm micrô, bộ tiền khuếch đại, bộ suy giảm, bộ khuếch đại, mạng trọng số tần số và đầu chỉ báo giá trị hiệu dụng.


Nguyên lý hoạt động của máy đo mức âm thanh:
Âm thanh được chuyển đổi thành tín hiệu điện bằng micrô, sau đó trở kháng được chuyển đổi bằng bộ tiền khuếch đại để khớp micrô với bộ suy giảm. Bộ khuếch đại thêm tín hiệu đầu ra vào mạng trọng số, thực hiện trọng số tần số trên tín hiệu (hoặc bộ lọc bên ngoài), sau đó khuếch đại tín hiệu đến một biên độ nhất định thông qua bộ suy giảm và bộ khuếch đại, rồi gửi nó đến bộ dò giá trị hiệu dụng (hoặc bộ khuếch đại). máy ghi mức bên ngoài). Giá trị độ ồn được hiển thị trên đầu chỉ báo.

 

Decibel Monitor -

Gửi yêu cầu