Điểm giống và khác nhau giữa kính hiển vi soi ngược và kính hiển vi quang học thông thường

Oct 09, 2024

Để lại lời nhắn

Điểm giống và khác nhau giữa kính hiển vi soi ngược và kính hiển vi quang học thông thường

 

Kính hiển vi đồng tiêu: Đây là phương pháp chụp ảnh quang học sử dụng phương pháp chiếu sáng từng điểm và điều chế lỗ kim không gian để loại bỏ ánh sáng tán xạ khỏi mặt phẳng không tiêu cự của mẫu. So với các phương pháp chụp ảnh truyền thống, nó có thể cải thiện độ phân giải quang học và độ tương phản hình ảnh. Ánh sáng phát hiện phát ra từ nguồn sáng điểm được tập trung vào vật thể quan sát thông qua thấu kính. Nếu vật ở chính xác tại tiêu điểm thì ánh sáng phản xạ sẽ hội tụ trở lại nguồn sáng qua thấu kính ban đầu, gọi là tiêu điểm, viết tắt là tiêu điểm. Kính hiển vi đồng tiêu thêm một gương lưỡng sắc vào đường ánh sáng phản xạ, làm lệch hướng ánh sáng phản xạ đã truyền qua thấu kính theo các hướng khác. Có một lỗ kim ở tiêu điểm của nó, nằm ở tiêu điểm. Phía sau vách ngăn là ống nhân quang (PMT). Có thể hình dung rằng ánh sáng phản xạ trước và sau tiêu điểm ánh sáng phát hiện không thể tập trung vào lỗ kim thông qua hệ thống tiêu điểm này và sẽ bị chặn bởi vách ngăn. Vì vậy quang kế đo cường độ ánh sáng phản xạ tại tiêu điểm. Ý nghĩa của nó là một vật thể bán trong suốt có thể được quét theo ba chiều thông qua hệ thống thấu kính chuyển động. Ý tưởng này được học giả người Mỹ Marvin Minsky đề xuất vào năm 1953 và phải mất 30 năm phát triển trước khi sử dụng tia laser làm nguồn sáng để phát triển kính hiển vi đồng tiêu đáp ứng lý tưởng của Marvin Minsky.


Kính hiển vi đảo ngược: Cấu tạo giống như kính hiển vi thông thường, ngoại trừ vật kính và hệ thống chiếu sáng bị đảo ngược, với cái trước ở dưới bàn soi và cái sau ở trên bàn soi. Dễ dàng vận hành và cài đặt các thiết bị thu nhận hình ảnh liên quan khác.


Kính hiển vi quang học là loại kính hiển vi sử dụng thấu kính quang học để tạo ra hiệu ứng phóng đại hình ảnh. Ánh sáng tới từ một vật thể được phóng đại bởi ít nhất hai hệ thống quang học (thấu kính vật kính và thị kính). Thứ nhất, vật kính tạo ra hình ảnh thật phóng to, được mắt người quan sát thông qua thị kính hoạt động như kính lúp. Một kính hiển vi quang học điển hình có nhiều vật kính có thể hoán đổi cho nhau, cho phép người quan sát thay đổi độ phóng đại khi cần thiết. Những vật kính này thường được đặt trên một đĩa vật kính có thể xoay được, cho phép các thị kính khác nhau dễ dàng đi vào đường quang bằng cách xoay đĩa vật kính. Các nhà vật lý đã phát hiện ra định luật giữa độ phóng đại và độ phân giải, và người ta nhận ra rằng độ phân giải của kính hiển vi quang học có giới hạn. Giới hạn độ phân giải này hạn chế độ phóng đại tăng vô hạn, với 1600 lần trở thành giới hạn độ phóng đại cao nhất cho kính hiển vi quang học, điều này hạn chế rất nhiều việc ứng dụng hình thái học trong nhiều lĩnh vực.


Độ phân giải của kính hiển vi quang học bị giới hạn bởi bước sóng ánh sáng, thường không vượt quá 0,3 micromet. Nếu kính hiển vi sử dụng ánh sáng cực tím làm nguồn sáng hoặc vật thể được đặt trong dầu thì độ phân giải có thể được cải thiện hơn nữa. Nền tảng này đã trở thành nền tảng để xây dựng các hệ thống kính hiển vi quang học khác.

 

5 Digital Soldering microscope

Gửi yêu cầu