Nhiều phương pháp đo cho máy đo độ dày lớp phủ
Máy đo độ dày lớp phủ có hai phương pháp đo: phương pháp đo liên tục (Continuue) và phương pháp đo đơn (Single);
Có hai chế độ làm việc: chế độ trực tiếp (CHỌN) và chế độ nhóm (ỨNG DỤNG);
Có năm thước đo thống kê: trung bình (MEAN), tối đa (MAX), tối thiểu (MIN), số lần kiểm tra (NO.), độ lệch chuẩn (S.DEV)
Có thể thực hiện hiệu chuẩn điểm 0 và hiệu chuẩn hai điểm, đồng thời có thể sử dụng các phương pháp hiệu chuẩn cơ bản để sửa lỗi hệ thống của đầu đo;
1. Nó có chức năng lưu trữ: nó có thể lưu trữ 300 giá trị đo;
2. Nó có chức năng xóa: nó có thể xóa một dữ liệu đáng ngờ xuất hiện trong phép đo, đồng thời xóa tất cả dữ liệu trong vùng lưu trữ của máy đo độ dày lớp phủ cho các phép đo mới;
3. Có thể đặt giới hạn: có thể kích hoạt cảnh báo tự động đối với các giá trị đo được ngoài giới hạn;
4. Nó có chức năng giao tiếp với PC: nó có thể truyền các giá trị đo được và thống kê đến PC để xử lý thêm bằng máy đo độ dày lớp phủ;
5. Nó có chức năng chỉ báo điện áp thấp; Có âm thanh ù trong quá trình vận hành; Có chức năng nhắc lỗi; Được trang bị chức năng tự động tắt máy.
Màn hình hiển thị của máy đo độ dày lớp phủ không ổn định.
Nguyên nhân chính khiến máy đo độ dày lớp phủ hiển thị không ổn định là do tính chất đặc biệt của vật liệu và cấu trúc của phôi, chẳng hạn như phôi có phải là vật liệu từ tính dẫn điện hay không. Nếu là vật liệu từ tính dẫn điện thì chúng ta cần chọn máy đo độ dày lớp phủ từ tính. Nếu phôi là vật liệu dẫn điện, chúng ta cần chọn máy đo độ dày lớp phủ dòng điện xoáy. Độ nhám bề mặt và các phần đính kèm của phôi cũng là nguyên nhân gây ra sự chênh lệch nhiệt độ trên màn hình thiết bị. Độ nhám bề mặt của phôi quá lớn và có quá nhiều vật đính kèm trên bề mặt. Chìa khóa để khắc phục sự cố là làm phẳng các phôi gia công có độ nhám cao, loại bỏ mọi phụ kiện đính kèm và sau đó chọn máy đo độ dày lớp phủ phù hợp.
