Độ phóng đại của kính hiển vi điện tử nói chung là bao nhiêu?
Độ phóng đại của kính hiển vi dùng để chỉ sản phẩm của độ phóng đại của thị kính và thấu kính vật kính, giúp phóng to chiều dài hoặc chiều rộng của hình ảnh vật kính. Ví dụ: nếu độ phóng đại của thị kính là 10 lần thì độ phóng đại của vật kính là 40 lần và độ phóng đại của kính hiển vi là 10 x 40 x 400 lần
Có hai khái niệm về độ phóng đại tổng, một là độ phóng đại quang học và thứ hai là độ phóng đại kỹ thuật số (độ phóng đại kỹ thuật số chỉ liên quan đến việc kết nối thiết bị chụp ảnh).
1. Độ phóng đại quang học là độ phóng đại mà chúng ta quan sát được một vật thể trong thị kính của kính hiển vi. Phương pháp tính độ phóng đại quang học tương đối đơn giản, đó là bội số vật kính nhân với bội số thị kính.
Ví dụ: khi tính toán độ phóng đại của kính hiển vi soi nổi, vật kính của kính hiển vi soi nổi có độ phóng đại thay đổi liên tục thường là 0.7-4,5 lần. Trong trường hợp thị kính 10x, tổng độ phóng đại của kính hiển vi này là 7-45 lần.
Việc tính toán kính hiển vi sinh học và kính hiển vi kim loại đơn giản hơn. Cấu hình vật kính chung là 4x, 10x, 40x, 100x, trong khi cấu hình thị kính thông thường là 10x. Ngoài ra còn có 16x, 20x, v.v. Tổng độ phóng đại có thể thu được bằng cách nhân riêng độ phóng đại của thị kính và vật kính.
2 độ phóng đại kỹ thuật số
Khuếch đại kỹ thuật số đề cập đến độ phóng đại của hình ảnh được hiển thị trên thiết bị bên ngoài. Hiện nay, phương pháp phổ biến trên thị trường là sử dụng kính hiển vi ba thấu kính, được kết nối với máy tính, màn hình hoặc tivi thông qua thiết bị CCD để quan sát hình ảnh, nhằm giảm mỏi mắt và tạo điều kiện chia sẻ với người khác.
