Phân tích nguyên lý đo dòng điện bằng ampe kìm
Ampe kìm về cơ bản bao gồm một máy biến dòng, một cờ lê kẹp và một dụng cụ đo lực phản kháng của hệ thống điện từ chỉnh lưu.
Nguyên lý làm việc của đồng hồ đo loại kẹp giống như nguyên lý làm việc của máy biến áp. Cuộn sơ cấp là dây đi qua lõi sắt loại kẹp, tương đương với cuộn sơ cấp của máy biến áp quay vòng 1-. Đây là máy biến áp tăng áp. Cuộn thứ cấp và ampe kế dùng để đo tạo thành mạch thứ cấp. Khi có dòng điện xoay chiều chạy qua dây dẫn thì chính từ trường xoay chiều do cuộn dây này tạo ra sẽ tạo ra dòng điện trong mạch thứ cấp. Độ lớn của dòng điện tỷ lệ thuận với tỷ lệ của dòng điện sơ cấp, tương đương với tỷ lệ nghịch của số vòng dây ở cuộn sơ cấp và thứ cấp. Ampe kế loại kẹp được sử dụng để đo dòng điện lớn. Nếu dòng điện không đủ lớn, số vòng dây đi qua ampe kế loại kẹp có thể tăng lên và dòng điện đo được có thể chia cho số vòng dây.
Cuộn dây thứ cấp của máy biến dòng xuyên lõi của ampe kế kẹp được quấn quanh lõi sắt và nối với ampe kế xoay chiều. Cuộn dây sơ cấp của nó là dây đo đi qua tâm của máy biến áp. Núm thực chất là một công tắc chọn phạm vi, chức năng của cờ lê là mở và đóng bộ phận có thể di chuyển được của lõi của máy biến áp xuyên lõi, để kẹp nó vào dây đo được.
Khi đo dòng điện, nhấn cờ lê, mở kìm và đặt dây mang dòng điện đo được vào giữa máy biến dòng điện loại xuyên qua. Khi có dòng điện xoay chiều đi qua dây đo, từ thông của dòng điện xoay chiều sẽ tạo ra dòng điện trong cuộn thứ cấp của máy biến áp. Dòng điện này đi qua cuộn dây của ampe kế điện từ làm kim chỉ lệch và hiển thị giá trị dòng điện đo được trên thang đo.
Sau khi luồn dây đã kiểm tra vào cửa sổ thông qua nút lõi sắt, điều quan trọng là phải đảm bảo hai bên kẹp vừa khít và không có vật nào khác được đặt vào giữa; Phạm vi tối thiểu của ampe kìm là 5A và sai số hiển thị sẽ lớn hơn khi đo dòng điện nhỏ. Điều này có thể được đo bằng cách cuộn dây có điện trên ampe kìm trong vài vòng và giá trị đọc được chia cho số vòng để thu được kết quả mong muốn.
